Cây ích mẫu có nhiều công dụng tốt làm các vị thuốc cho phụ nữ chú yếu mọc hoang, thường thấy ở ven suối, ven sông nơi đất cát, còn mọc hoang ở rộng hoang, ven đường. là một trong những cây thuốc quanh ta được ứng dụng nhiều trong y học. Hiện nay được các công ty dược phẩm chế biến thành thuốc, cao ích mẫu trở thành vị thuốc không thể thiếu cho phụ nữ hiện nay.

Cách nhận biết cây ích mẫu

Cây ích mẫu có tên như vậy vì có ích cho người mẹ (ích là có ích, mẫu là mẹ). Tên Leonurus do chữ Hy lạp leon là sư tử, oura là đuôi, heterophyllus là lá có hình dạng biến đổi, vì cây ích mẫu giống đuôi con sư tử có lá hình dạng thay đổi. Ích mẫu là một loại cỏ sống 1-2 năm, cao 0,6m đến 1m. Thân hình vuông, ít phân nhánh, toàn thân có phủ lông nhỏ ngắn. Lá mọc đối, tùy theo lá mọc ở gốc, giữa thân hay đầu cành mà có hình dạng khác nhau. Lá ở gốc, có cuống dài, phiến lá hình tim, mép có răng cưa thô và sâu; lá ở thân có cuống ngắn hơn, phiến lá thường xẻ sâu thành 3 thùy, trên mỗi thùy lại có răng cưa thưa; lá trên cùng phần lớn không chia thùy và hầu như không cuống. Hoa mọc vòng ở kẽ lá. Tràng hoa màu hồng hay tím hồng, xẻ thành hai môi gần đều nhau. Qủa nhỏ, 3 cạnh, vỏ màu xám nâu.

Cây ích mẫu

Cây ích mẫu

Ngoài cây ích mẫu mô tả trên, cần chú ý phát hiện và phân biệt cây ích mẫu Leonurus sibiricus L (tạm gọi là cây ích mẫu hoa to) vì cây này khác cây ích mẫu mói trên ở hoa to hơn, dài hơn, lá phía trên vẫn chia 3 thùy. Ta có thể tóm tắt sự khác nhau giữa hai cây như sau:

  • Lá trên cùng không chia thùy, tràng hoa dài 9-12mm, môi trên, môi dưới gần bằng nhau Leonurus heterophyllus.
  • Lá trên cùng xẻ 3 thùy, tràng hoa hài 15-20mm, môi dưới ngắn hơn môi trên Leonurus

Tác dụng của cây ích mẫu

Tác dụng trên huyết áp: Nước sắc ích mẫu tuy không tác dụng trưc tiếp trên huyết áp nhưng làm giảm tác dụng của adrenalin trên mạch máu. Cao ích mẫu làm giảm huyết áp, nhất là dối với thời kỳ đầu của bệnh cao huyết áp.

Tác dụng trên tim mạch: Loài ích mẫu Leonurus quinquelobatus và Leonurus Cardia có tác dụng tốt trên tim mạch và đối với cơ tim có bệnh.

Tác dụng đối với hệ thần kinh:  cây ích mẫu Leonurụs ribiricụs mạnh hơn tác dụng của Vale- rion và của Muyghe (Convallaria maialis)

Tác dụng kháng sinh đối với một số vi trùng ngoài da: Theo Trụng Hoa bì phụ khoa tạp chí một số tác giá nghiên cứu thấy nước chiết ích mẫu 1 : 4 có tác dung ức chế với trình độ khác nhau đối với một số vi trùng gây bệnh ngoài da.

Tác dụng trên viêm thận và phù cấp tính: Trên lâm sàng, ích mẫu chữa khỏi một số trường hợp viêm thận và phù

Công dụng và liều dùng ích mẫu

Công dụng: Thường ích mẫu dùng trong trường hợp đẻ xong bị rong huyết (cầm máu tử cung). chữa viêm niêm mạc dạ con, kinh nguyệt quá nhiều. Còn dùng chữa huyết áp cao, thuốc bổ huyết, các bệnh về tuần hoàn cơ tim, thần kinh của tim, chứng tim hẹp nhẹ (Stenocardie), chữa lỵ. Quả ích mẫu dùng với tên sung úy tử làm thuốc lợi tiểu, chữa phù thũng, thiên đầu thống (glôcôm). Dùng ngoài thân và quả ích mẫu giã đắp hay sắc lấy nước rửa chữa một số bệnh như sưng vú, chốc đầu, lở ngứa.

Theo sách cổ, ích mẫu có tính chất: Vị cay, đắng, tính hơi hàn. có khả năng trục ứ huyết. sinh huyết mới, hoạt huyết điều kinh, những người có đồng từ mở rộng không dùng dược.

Liều dùng: hằng ngày từ 6 đến 12g dưới dạng thuốc sắc hay nấu thành cao. Quả ích mẫu dùng với liều 6 đến 12g dưới dạng thuốc sắc.

Bộ phận dùng của cây ích mẫu

Cây ích mẫu cung cấp cho chúng ta 2 vị thuốc:

  • Ích mẫu hay ích mẫu thảo là toàn bộ phần cây trên mặt đất được phơi hay sấy khô.
  • Sung úy tử là phần quả chín phơi hay sấy khô của ích mẫu. Nhiều người vẫn nhầm lẫn đây là hạt của ích mẫu.

Trong y học cổ truyền ích mẫu có thể được chế biến như sau:

  • Ích mẫu cắt đoạn: Lấy ích mẫu tươi đã phơi khô bỏ rễ, cắt thành từng đoạn dài 3–5cm. Trường hợp các thân và cành to, dài thì bạn cần nhúng nước, ủ mềm rồi mới cắt đoạn, sau đó phơi khô.
  • Ích mẫu chích rượu: Cho ích mẫu vào rượu với tỷ lệ ích mẫu 10kg, rượu 3kg, trộn đều, ủ một đêm. Dùng lửa nhỏ sao dược liệu cho đến khi có màu hơi đen.
  • Ích mẫu chích giấm: Tẩm giấm vào ích mẫu (10kg ích mẫu : 2kg giấm) ủ rồi sao vàng.
  • Ích mẫu chế: Chuẩn bị ích mẫu 10kg, giấm 1kg, gừng tươi 2kg, rượu 1kg, muối ăn 200g, nước sôi. Đầu tiên, giã nát gừng rồi vắt nước. Dùng nước sôi pha muối rồi trộn với giấm và rượu, xong cho hỗn hợp phụ liệu này vào ích mẫu trộn kỹ, ủ chừng 1 giờ, phơi khô.

Đơn thuốc có ích mẫu

Cao ích mẫu: Cây ích mẫu nấu với nước. cô đặc thành cao mềm. Trong nhân dân trước đây thường dùng loại cao này.

Cao ích mẫu bán trên thị trường hiện nay thường không phải chỉ có vị ích mẫu, mà thường phối hợp nhiều vị khác nhau, ví dụ cao ích mẫu của Thanh Hóa gồm ích mẫu nước 800g, ngải diệp 200g, hương phụ tứ chế 250g.

Đơn cao ích mẫu của dược phẩm Nghệ An gồm ích mẫu 70%, xuyên khung 2%, đương quy 10%, bạch thược 3%, thục địa 1%, bắc mộc hương 1%, đại táo 2%, trần bì 1%, hương phụ chế 5%, ô dược 2%. Ngay tại mỗi nơi, tùy theo thời kỳ, công thức cũng thay đổi cho nên khi dùng và theo dõi kết quả cần chú ý để tránh nhầm lẫn.

Cao ích mẫu hiện nay được thống nhất theo đơn: Ích mẫu 800g, ngải cứu 200g, hương phụ 250g, tá dược (xirô, cồn 15 độ) vừa đủ 100g, Cao hương ngải.

Phân bố thu hái và chế hiến

Ích mẫu hiện nay chú yếu mọc hoang, thường thấy ở ven suối, ven sông nơi đất cát, còn mọc hoang ở rộng hoang, ven đường. Gần đây một số nơi đã bắt đầu trồng để làm thuốc. Hiện nay nhu cầu ích mẫu rất lớn chỉ trông vào thu hái ích mẫu mọc hoang là không dủ. Chúng tôi tóm tắt một số kinh nghiệm trồng ích mấu tại trạm trồng cây thuốc Nam xuyên (Trung Quốc) để tham khảo:

Ích mẫu mùa đông cần trồng vào mùa thu, ích mẫu mùa xuân gieo trồng vào mùa xuân hay mùa thu, ích mẫu mùa hạ cũng có thể gieo trồng vào mùa xuân hay mùa thu. Ích mẫu mùa hạ cho hiệu suất cao nhất (9 tấn khô 1 hecta), nhưng thời gian từ khi gieo đến khi thu hoạch trên 10 tháng, còn các loài mùa đông và mùa xuân chỉ cần hơn 8 tháng nhưng năng suất chỉ được 4-6 tấn khô 1 hecta. Gieo hạt thẳng thành luống, mỗi luống cách nhau 17cm, trên mỗi luống cây nọ cách cây kia 7cm cho sản lượng cao nhất. Mỗi hecta cần từ 8 đến 9 kilôgam hạt giống Khi trồng cần trộn hat với tro bếp. Vào khoảng tháng 5-6, lúc một nửa số hoa của cây bắt đầu nở thì bắt đầu thu hái. Đem về phơi hay sấy khô là được. Nếu muốn thu hoạch hạt (quà) thì cần chờ khi hoa trên cây đã tàn hết, thu hoạch đến đâu dũ hết quả đến đó. mỗi hecta cho từ 350 đến 370 Kilôgam quả khô. Mùa thu hoạch cây: tháng 5-9, mùa quả: tháng 8-10.

Phân loại ích mẫu

  • Ích mẫu mùa đông cần trồng vào mùa thu, ích mẫu xuân gieo trồng vào mùa xuân hay mùa thu, ích mẫu mùa hạ cũng có thể gieo trồng vào mùa xuân hay mùa thu. Ích mẫu mùa hạ cho hiệu suất cao nhất (9 tấn khô 1 hecta), nhưng thời gian từ khi gieo đến thu hoạch trên 10 tháng, còn các loại mùa xuân hay mùa đông chỉ trên 8 tháng nhưng năng suất chỉ được 4-6 tấn khô/ hecta.
  • Gieo hạt thẳng thành luống, mỗi luống cách nhau 17cm, trên mỗi luống cây nọ cách cây kia 7cm cho sản lượng cao nhất. Mỗi hecta cần đến 8-9 kg hạt giống. Khi trồng cần trộn hạt với tro bếp. Vào khoảng tháng 5-6, lúc một nửa số hoa của cây bắt đầu nở thì bắt đầu thu hái.
  • Đem về phơi hay sấy khô là được. Nếu muốn thu hoạch hạt (quả) thì cần chờ khi hoa trên cây đã tàn hết, thu hoạch đến đâu giũ hết quả đến đó. Mỗi hecta cho tờ 350-370 kg quả khô. Mùa thu hoạch cây: tháng 5-9, mùa quả: tháng 8-10.

Thành phần hóa học

Cây ích mẫu Leonurus heterophyllus chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ chúng tôi thấy phản ứng ancaloit và tanin (7-8%), flavonozit.

Từ cây ích mẫu Leonurus sibiricus, các nhà nghiên cứu Nhật Bản ( Nhật bản dược vật học tạp chí 1930, tr.153-158) đã chiết được 0,05% ancaloit gọi là leonirin C13H19O4N4 có độ chảy 238oC.

Năm 1958, một số tác giả khác (Bắc Kinh y học viện học báo kỳ I) đã chiết từ ích mẫu Leonurus sibiricus 5 chất có tinh thể: 2 chất đầu là ancaloit và gọi là leonurin A: C20H32O10N6 có độ chảy 229-230oC, leorunin B: C14H24O7N4 chảy 77-78oC, 86-87oC và 141-142oC.

Năm 1940, Thang Đằng Hán (1940 J.Chem. Soc.vol.7, N02) chiết từ phần tan trong nước một chất gọi là leonuridin công thức C6H12O3N2 có độ chảy 221,5-222oC. Trong cây và quả ích mẫu, Hứa thực Phương (J.Chem.Soc.vol 2, N03) còn báo cáo chiết được một ancaloit khác còn gọi là leonurinin có độ chảy 262-263oC với công thức C10H14O3N2.

Tỷ lệ ancaloit cao nhất vào tháng 5, sau đó giảm xuống. Ngoài ra trong cây ích mẫu còn có tanin, chất đắng, saponin và 0,03% tinh dầu.

Hoạt chất của ích mẫu như thế cũng chưa được xác định chắc chắn, nhưng trên cơ sở dược lý người ta thấy trong ích mẫu có 2 loại hoạt chất. Một loại hoạt chất tan trong ête có tác dụng ức chế tử cung, một loại hoạt chất không tan trong ête có tác dụng kích thích tử cung.

Gần đây người ta thấy trong ích mẫu có 3 flavonozit, một trong số flavonozit được xác định là rutin, một glucozit có cấu tạo steroit, một ít tanin, trong toàn cây có leocacdin cùng cấu trúc với stachydrin, một ít tinh dầu. Ancaloit không có tác dụng chữa bệnh.

Một số chứng bệnh thường dùng ích mẫu

  • Ích mẫu trị kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh: ích mẫu, hương phụ, ngải cứu, bạch đồng nữ, đồng lượng 12g, sắc uống, ngày một thang.
  • Ích mẫu trị viêm thận gây phù: 40-100g sắc nóng hoặc phối hợp với xa tiền, bạch mao căn, đồng lượng 16g, sắc uống.
  • Ích mẫu trị mắt đau, sưng đỏ: sung úy tử, cúc hoa, hạt muồng ngủ, hạt mào gà trắng, sinh địa, mỗi vị 10g, sắc uống.
  • Ích mẫu giúp tử cung co hồi sau đẻ: ích mẫu 36g, đương quy 9g. Sắc uống, chia 3 lần trong ngày.

GS.TS Phạm Xuân Sinh

Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Dược học cổ truyền, Trường Đại học Dược Hà Nội

(Theo Nội khoa Việt Nam)

Lương Y Gia Định

Lương Y Gia Định

Mục đích của chúng tôi là sưu tầm, lưu trữ những thông tin y học quý báu, tổng hợp những bài thuốc dân gian, cây thuốc quanh ta hay và bổ ích đến với bạn đọc

Leave a Reply